Mới Cập Nhật :

HIỆP THÔNG VÀ CẦU NGUYỆN

LỊCH SỬ GIÁO XỨ TÂN LỘC

Tin Giáo Xứ Tân Lộc

TNTT Tân Lộc - Đoàn Phê-rô Nguyễn Khắc Tự

Showing posts with label Hôn Nhân và Gia Đình. Show all posts
Showing posts with label Hôn Nhân và Gia Đình. Show all posts

NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA HÔN NHÂN DO ẢNH HƯỞNG VĂN MINH VÀ TIẾN BỘ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

Monday, January 30, 2012


Trần Mỹ Duyệt

Trong Đại Hội về Gia Đình của Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, Texas vào đầu tháng 2 vừa qua, tôi được mời nói về một đề tài mà theo tôi rất gần gũi, nhưng cũng rất cần thiết cho đời sống hôn nhân của các gia đình, đặc biệt là các gia đình trẻ. Đó là “Những thách đố của hôn nhân do ảnh hưởng văn minh và tiến bộ khoa học hiện đại”.

QUAN NIỆM VÀ SUY TƯ MỚI
Trước hết, nền tảng gia đình ngày nay đang phải đối diện với những thách đố đến từ những quan niệm và suy tư đổi mới của con người thời đại. Hai luồng tư tưởng ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với tương quan vợ chồng, đó là quan niệm bình quyền và cá nhân chủ nghĩa.
 1-Bình quyền:
Bình quền là một từ ngữ mà chúng ta thường xuyên nghe thấy trong mọi sinh hoạt, đặc biệt là những sinh hoạt có tính cách xã hội. Tại các nước văn minh tiên tiến, bình quyền còn được đề cao như một hình thức đạo đức xã hội. Đi đâu và ở đâu cũng “ưu tiên cho phụ nữ” - “lady first”.
Bình quyền theo quan niệm nhiều người, cách riêng là nữ giới, có nghĩa là “như nhau” hoặc “giống nhau”. Đàn ông cũng như đàn bà. Trai cũng như gái. Cái gì anh làm được, tôi cũng làm được. Ở một nghĩa tuyệt đối, tôi phải như anh, và anh cũng như tôi. Và với quan niệm, lý luận này, sự khác biệt nam nữ, vai trò chuyên biệt trong đời sống cũng như sinh hoạt xã hội trở thành đảo lộn, mất trật tự.
Bình quyền, do đó, không đồng nghĩa với giống nhau. Anh là anh, tôi là tôi. Đàn ông là đàn ông, và đàn bà là đàn bà. Mỗi người, mỗi phái tính đều có những giá trị và chức năng riêng. Sự khác biệt này không những cần thiết mà còn hữu ích cho cuộc sống cá nhân, gia đình, cũng như xã hội. Vì thế, bình quyền phải được hiểu như sự tương xứng, và ngang hàng. Những bông hoa khác nhau với những hương thơm và màu sắc khác nhau được trồng chung trong một khu vườn. Chúng lớn lên tự nhiên bên nhau trong khu vườn, và đem lại vẻ đẹp đa dạng với những giá trị riêng của chúng.
Trong đời sống hôn nhân, giá trị đồng đều và tương xứng ấy là vai trò và phạm vi của người chồng cũng như của người vợ. Bình quyền trong hôn nhân là một lối diễn tả thái độ sống tôn trọng, yêu thương và tương kính nhau trên căn bản và giá trị của một con người; một cách đặc biệt, người đó là người mình thương, mình yêu, và thương mình, yêu mình. Từ quan niệm bình quyền ấy đưa đến việc san sẻ, và cộng tác với nhau. Vợ chồng khích lệ và giúp nhau làm tròn bổn phận và chức năng mỗi người. Lấy hạnh phúc của người mình yêu là hạnh phúc chính mình. Cảm thông được nỗi đau và nỗi khổ của người mình yêu như của chính mình.
 
2-Cá nhân chủ nghĩa:
Nếu lấy tôi làm bản vị và đơn vị duy nhất, thì cá nhân chủ nghĩa đồng nghĩa với độc tôn. Trong tương quan xã hội, tôi lo tìm và thỏa mãn cái tôi của tôi, và tôi là nhất, ngoài ra không còn ai khác.
Vì đề cao cái tôi, nên chính khi đi tìm thỏa mãn cái tôi của mình, tôi đã vô tình hay hữu ý làm mờ nhạt hoặc lấn lướt cái tôi của người khác. Điều này làm nảy sinh sự bất công trong xã hội, châm ngòi cho những đấu tranh, tệ đoan xã hội. Quan niệm và sống như tôi là nhất, còn dẫn đến lối sống ích kỷ và tìm mình.
Trong hôn nhân, quan niệm và lối sống này sẽ thúc đẩy người chồng cũng như người vợ lo tìm kiếm và thỏa mãn riêng mình, tạo nên cảnh: “Chồng ăn chả, vợ ăn nem.” Nó cũng sẽ dựng lên một bức tường phòng thủ kiên cố được tự ái bao bọc, khiến dù là chồng hay vợ cũng không thể xâm nhập được. Một cuộc sống mà hễ cái tôi bị va chạm liền nảy sinh vấn đề, cãi vã, khó chịu, hoặc kình chống nhau. Nó hoàn toàn phá vỡ hình ảnh của hôn nhân là sự kết hợp yêu thương giữa hai vợ chồng.
NIỀM TIN LUNG LAY
Nhân loại ngày nay, hơn bao giờ hết đang gặp nhiều thách đố về niềm tin. Nhân danh những tiến bộ của khoa học và nhân danh tự do, con người như đang đuổi Thượng Đế ra khỏi cuộc đời mình, và cuộc sống xã hội. Kết quả của sự sa sút niềm tin này làm cho con người mất định hướng, mất ý nghĩa, và mất đi giá trị cuộc đời, khiến cuộc sống ngày càng trở nên vô vọng, mất đi ý nghĩa của nó. 
 
Vì để lạc mất niềm tin, hay không còn tin vào những giá trị thiêng liêng, phần đông các tín hữu Công Giáo ngày nay đã coi Bí Tích Hôn Phối như một ràng buộc có tính cách pháp lý. Việc cử hành Bí Tích Hôn Phối chỉ là một nghi thức mang màu sắc tôn giáo. Quan niệm này dẫn đến kết quả cho rằng hôn nhân là một việc làm có thể thay thế được khi con người cảm thấy cần có sự thay đổi. Nó được trả lời bằng phong trào ly dị như hiện nay, và đã phá vỡ hơn 50% các cuộc hôn nhân.
Tuy nhiên, hôn nhân Công Giáo lại không phải là một khế ước, hay một nghi thức được cử hành ở thánh đường. Nó là một giao ước bất khả phân ly giữa người chồng và người vợ: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly” (Mac 10:9). Giao ước này được cử hành long trọng bởi hai người trước sự chứng kiến của đại diện Giáo Hội, thân bằng quyến thuộc, và bạn hữu.

MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI
Con người ai cũng mang trong mình ít nhiều xã hội tính. Sự thay đổi về kinh tế ngày nay đã đẩy con người ra ngoài sinh hoạt của gia đình, thử thách lòng tin tưởng và thủy chung của nhiều người. Đặc biệt nhất của môi trường xã hội là sở làm nơi mà ít nhất mỗi ngày chúng ta cũng phải để ra 8 tiếng, hoặc nhiều hơn có thể lên đến 10, 12, hoặc 16 tiếng.
Từ môi trường sở làm mà nhiều người đã tìm được chồng hoặc vợ tương lai của họ. Ngược lại, cũng từ sở làm mà nhiều người đã mất chồng hoặc mất vợ. Vì cũng chính ở đây phát sinh những tình cảm đe dọa sự chung thủy của vợ chồng:
 1-Tình cảm bất chính:
Không ai từ chối tình cảm tốt đem đến sự cộng tác và giúp đỡ trong công việc thường ngày. Tại sở làm có những công việc làm riêng, và cũng có nhiều công việc đòi hỏi sự hợp tác của nhiều người.
Thời gian dài gặp gỡ, cộng tác và trao đổi tại sở làm hay hãng xưởng đã làm nẩy sinh tình cảm đối với nhau: tình cảm ngay lành và tình cảm bất chính. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Đó là nhận xét của cha ông chúng ta trong những giao tiếp thường xuyên giữa nam và nữ. 

Tại những nơi ấy, tình cảm phát xuất trước hết do quan hệ người trên và người dưới. Người chỉ huy và người thừa hành. Tiếp đến là giữa những anh chị em cùng một ngành nghề. Đặc biệt, giữa những người điều hành và người thừa hành là nam và nữ. Bạn bè cùng ngành nghề là nam và nữ.
Cũng tại nơi này, những chuyến công tác xa nhà do các hãng xưởng gửi đi, trong đó phải kể đến những chuyến công tác có cả nam và nữ hoặc chỉ riêng một nam và một nữ.
Môi trường sở làm, trong rất nhiều trường hợp đã trở thành thử thách lớn cho sự chung thủy, nhất là khi người vợ bước vào thời kỳ hồi xuân trung bình từ 40 đến 50 tuổi. Cái tuổi rất khó khăn cho nữ giới cũng như nam giới trong lãnh vực tâm lý và tình cảm.
 2-So sánh hơn thua:
Do hàng ngày tiếp xúc với người này, người khác trong sở làm, qua những mối giao tiếp xã hội nẩy sinh những so sánh hơn thua giữa chồng mình với chồng người khác, giữa vợ mình với vợ người khác.
Sự so sánh ấy đặt trên những căn bản như ngành nghề, bằng cấp, kiến thức, và lương bổng. Thông thường, người chồng mà có học lực thấp hơn vợ, có ngành nghề dưới tay vợ, và có mức lương thua kém vợ là những lý do dễ đưa đến những mặc cảm tự ty hoặc tự tôn. Một người bạn đã có lần tâm sự với người viết:
Anh không thể nào tưởng tượng được nỗi đau của tôi khi vợ tôi nói với tôi trong thời gian tôi đang vật lộn đi tìm việc làm: “Học cho lắm rồi cũng ở nhà ăn lương vợ. Ngày mai vào sở làm tôi cho một chức thứ ký cho tôi!”
Sự đau đớn này, có thể gây ra tâm bệnh nếu nó bị dằn vặt và được tái tục mỗi ngày. Nhẹ nhất trong những trường hợp như vậy, người chồng sẽ cảm thấy lép vế, sẽ mất tự tin. Hậu quả sẽ dẫn đến những lời nói và hành động tiêu cực như những lời nói bất nhã, thiếu kính trọng, bẳn gắt, tức bực; đặc biệt nhất là hành động ghen tương vô cớ. Đó là những dấu hiện khởi đầu dẫn đến triệu chứng thiếu tự tin. Khả năng điều hành gia đình vì vậy bị ảnh hưởng và dẫn đến những bất ổn trong gia đình.
Ngược lại, người vợ có thể mang những mặc cảm tự tôn và cho mình không cần thiết phải vâng lời, hoặc kính trọng một người chồng thua kém mình về nhiều mặt. Tình yêu của phụ nữ thường đến từ sự ngưỡng phục: “Gái tham tài, trai tham sắc”. Và khi sự nể phục không còn nữa, lúc đó ngọn lửa tình yêu cũng bắt đầu lịm tắt.
Chồng cũng như vợ không biết mình cần gì và muốn gì giữa những tình huống như vậy? Không biết hành xử như thế nào để quân bình tình cảm, tình yêu, và trách nhiệm.
TIỆN NGHI CỦA TIẾN BỘ
Ngày nay trong hầu hết các gia đình đều có chiếc computer. Người nào cũng có một chiếc xe, và mỗi người kể cả con cái đều cũng có một chiếc điện thoại di động.    
Pascal đã nói: “Khoa học tinh thông làm ta gần Chúa. Khoa học nông cạn làm ta xa Chúa.” Áp dụng vào những tiến bộ của khoa học trong đời sống vợ chồng, điều này có thể hiểu rằng, lạm dụng những tiện nghi của đời sống sẽ đưa đến những khủng hoảng lớn lao trong tương quan vợ chồng. Biết lợi dụng những tiến bộ của khoa học sẽ giúp đời sống vợ chồng tươi thắm hơn, hạnh phúc hơn.
Làm sao có thể kiểm chứng được chồng hay vợ đi đâu, làm gì trong những thời gian sau sở làm. Xã giao? Gặp gỡ bạn bè? Trao đổi nghề nghiệp? Thật ra, chỉ có Chúa biết và người đó biết mà thôi. Và nếu không tin tưởng, thành thật với nhau thì đây là những bước đầu đưa đến đổ vỡ.
Làm sao có thể biết chồng hay vợ đang xem gì, đọc gì trên internet, và email ở phòng bên. Không lẽ lại không tin chồng hoặc tin vợ khi họ sử dụng computer? Không lẽ lại không tin chồng mình, vợ mình đang nói chuyện tốt với bạn bè trên email? Hoặc đang tìm kiếm những thông tin, kiến thức cần cho nghề nghiệp trên các trang nhà? Có nhiều lý lẽ để biện minh hành động chính đáng của mỗi người. Ngược lại, cũng có nhiều trường hợp đã chứng minh sự lạm dụng này đem đến đổ vỡ tình cảm, tình yêu của nhiều vợ chồng.
  • “Ông lo ôm nó mà không ôm tôi, tôi sẽ đi ôm người khác!”
Hoặc:
  • “Bà cứ ôm cứng nó mà không ôm tôi, tôi sẽ phá nát cái gia đình này cho mà biết!”
Những câu nói thường xuyên mà nhiều người vẫn thường nói hoặc nghe nói về những lạm dụng computer, email, internet này đã trở thành sự thật chua chát đối với nhiều gia đình khi mà người chồng hoặc người vợ đã không ý thức hoặc kìm hãm được đa mê của mình trong việc sử dụng những tiến bộ của khoa học.
Một cách tương tự, làm sao có thể kiểm chứng được những cú phôn mà chỉ người chồng hay người vợ biết?
  • “Thôi nha em. Anh đang về gần đến nhà rồi. Ngưng đi, mai mình nói tiếp…?”
Hay:
  • “Gần đây có ai gọi về nhà này mà hễ nghe tiếng tôi thì lại ngưng không nói nữa?”
Làm sao có thể biết và kiểm soát được những cú phôn đưa đến sự nghi ngờ? Những cú phôn đưa đến những hành vi bất trung và phản bội?!!
TRỊ LIỆU
Câu hỏi được đặt ra mà nhiều người muốn có câu trả lời, đó là phải làm gì để giữ được hạnh phúc hôn nhân giữa trăm ngàn cám dỗ, gọi mời đang xảy ra quanh ta giữa một thời đại với những tiến bộ vượt bực của tư tưởng và khoa học?
 1-Thông cảm nhau:
Dù là vợ hay chồng mỗi người đều có một con tim và một khối óc, và vì thế, tuy là vợ chồng nhưng mỗi người đều có những suy nghĩ và cảm nghiệm khác nhau. Đa số những cuộc cãi vã, chửi bới nhau, hoặc xích mích, bất bình giữa vợ chồng đều đến từ nguyên nhân này: Đó là sự thiếu thông cảm và hiểu biết nhau. Nói một cách dễ hiểu là hiểu lầm nhau.
Khi phủ nhận tình cảm và chủ ý tốt của người mình yêu, là ta đã hành động một cách hết sức tiêu cực, thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm. Đặc biệt, khi người chồng hoặc người vợ càng yêu ta nhiều, càng quan tâm đến ta nhiều mà chỉ nhận lại sự nghi ngờ, hoặc những lời bình luận tiêu cực, thì đau khổ đó sẽ càng tăng gấp bội.
Tuy nhiên, những bất bình, xung khắc và tranh cãi giữa vợ chồng là những gì có thể tránh hoặc khắc phục được. Do đó, vợ chồng phải có giờ ngồi với nhau với thái độ lắng nghe và chia sẻ. Ngồi với nhau như lúc mới quen biết. Nói với nhau như thuở mới gặp nhau. Chỉ khi nào ta mở rộng lòng mình lắng nghe với thái độ kính trọng và yêu thương, lúc ấy ta mới khám phá ra tình yêu mà chồng hay vợ mình dành cho mình; mới hiểu rằng, phê phán, trách móc, hoặc nghi ngờ là những hành động tội lỗi, hết sức xấu xa và nguy hiểm.
Tâm lý hôn nhân gia đình cho việc vợ chồng lắng nghe và nói với nhau cách thành thật, tôn trọng là một phương pháp trị liệu tốt nhất, hữu hiệu nhất trong việc hàn gắn và hóa giải những xung khắc trong gia đình.
 2-Dành thời giờ cho nhau:
Có bao giờ bạn nghĩ rằng nụ hôn này, buổi tối hôm nay là nụ hôn và buổi tối sau cùng của bạn đối với chồng hoặc vợ của bạn không? Và nếu như được báo cho biết đây là lần gặp gỡ sau cùng của hai người thì bạn sẽ làm gì trong buổi tối hôm nay?
Có nhiều người vợ hay người chồng đã tỏ ra hết sức hối hận vì đã để vuột mất cơ hội bày tỏ tình yêu đối với vợ hay chồng mình lần cuối. Càng hối hận hơn nữa, khi người vợ hoặc chồng đã chết lúc đó mới khám phá ra cái hay, cái tốt, và nhất là những hy sinh cao cả mà người ấy dành cho mình. Trong thực tế, những hối hận này không thiếu. Nhưng con người hầu như đều có cùng một căn bệnh, đó là chỉ biết hối tiếc khi cái mình có đã mất. Ngược lại, không hề trân quí và coi trọng cái mình đang có trong tầm tay.
Đi vào thực tế, bạn dành cho chồng hay vợ bạn bao nhiều phút, bao nhiêu giờ mỗi ngày? Tôi muốn nói đến những giờ phút mà cả hai đều có thể cười được với nhau, nói được một lời nói yêu thương, hoặc trao cho nhau một nụ hôn, một ánh mắt thân thương. Bạn sẽ trả lời, tôi bận quá không có giờ. Tôi mệt mỏi quá không muốn làm chuyện ấy.
Vậy bạn mệt mỏi vì ai? Và bạn bận rộn vì ai? Vì hạnh phúc gia đình, vì hạnh phúc con cái, và vì hạnh phúc của nhau? Vậy nếu bạn đã có tất cả những bận rộn ấy mà lại không vì tình yêu, không thăng hoa được tình yêu thì những bận rộn kia sẽ chỉ là vô nghĩa. Hy sinh không vì tình yêu là hy sinh vô nghĩa. Tình yêu mà không có hy sinh là tình yêu hời hợt và giả dối.
Đừng để đến sinh nhật, ngày kỷ niệm thành hôn, hoặc một biến cố lớn mới tặng vợ mình hay chồng mình một bó hoa, một cánh thiệp, hoặc một nụ hôn vội vàng, nhạt nhẽo. Hãy làm những việc ấy mỗi ngày trong khi bạn có thể làm được.
 3- Sự giúp đỡ chuyên nghiệp: 
Nếu những cố gắng giữa hai vợ chồng không đem lại cảm thông, và không tạo điều kiện để hai người ngồi lại với nhau, thì đã đến lúc cả hai cần phải tìm sự hướng dẫn và giúp đỡ chuyên nghiệp. Hãy đến với một văn phòng bác sỹ tâm lý, hoặc gặp gỡ một vị hướng dẫn tâm linh. Bằng một cái nhìn chuyên môn và thực tế, các bạn sẽ được giúp đỡ để hàn gắn, và để có thể ngồi lại với nhau.
Thống kê cho biết, khi cả hai mặc dù tự mình không giải quyết vấn đề của mình được, nhưng muốn có một sự giúp đỡ khách quan và chuyên môn thường đem lại những kết quả tốt. Đặc biệt, ở những người có trình độ học vấn, và trẻ tuổi. Tuy nhiên, nên tránh những giúp đỡ chỉ dựa trên mê tín, dị đoan phù phiếm, vì nó chỉ thỏa mãn được cảm tình tiêu cực mà không giải quyết tận gốc rễ của những vấn đề giữa hai vợ chồng. Ngoài ra, nó còn tạo nên những nghi ngờ, lo lắng, và sợ hãi.

4- Cầu nguyện:
Đề nghị cầu nguyện để hóa giải những bất bình, tranh cãi và hiểu lầm giữa vợ chồng, là một đề nghị khách quan và hết sức quan trọng. Đề nghị này phát xuất từ Thánh Kinh.
Thánh Kinh kể rằng giữa tiệc cưới hôm đó tại Cana, tự nhiên hết rượu. May mắn cho đôi tân hôn, trong những khách được mời có Mẹ Maria và Chúa Giêsu, và nhờ đó mọi việc đã được giải quyết một cách tốt đẹp.
Thánh Kinh còn ghi rõ, Chúa Giêsu đã làm phép lạ nướclã hóa thành rượu ngon, và là phép lạ đầu tiên mở màn cho hành trình loan báo Tin Mừng của Ngài do lời cầu xin của Mẹ Maria. Điều này chứng tỏ sự quan trọng của cầu nguyện, và sự hiện diện của Thánh Gia trong hạnh phúc hôn nhân.
Đi vào thực hành, mỗi sáng trước khi bắt đầu một ngày mới, vợ chồng cùng nhau dành ít phút cám ơn Chúa vì giấc ngủ ngon, và còn có nhau trong đời. Trong đêm hôm qua đã có bao nhiêu người chết, bao biến động xảy ra trên trên thế giới, nhưng bạn và gia đình bạn vẫn được bằng an. Cầu xin Ngài tăng thêm nghị lực và mọi điều may lành cho một ngày mới. Mỗi tối cũng dành ít phút ngồi lại với nhau, cảm ơn Chúa Mẹ về muôn ơn lành trong một ngày. Cảm ơn nhau về những việc tốt vợ chồng làm cho nhau và vì nhau. Đồng thời cũng xin lỗi Chúa Mẹ, xin lỗi nhau về những chuyện lầm lỡ đã gây cho nhau ban ngày.
Cầu nguyện như vậy chính là châm thêm dầu vào chiếc đèn tình yêu, và rượu yêu thương vào bầu rượu hạnh phúc của vợ chồng. Kết quả khảo cứu cho biết các đôi vợ chồng cùng cầu nguyện với nhau sẽ giảm thiểu 14% con số ly dị so với các đôi vợ chồng không cầu nguyện.
14% con số không phải là nhỏ, và biết đâu vợ chồng bạn lại chẳng nằm trong con số may mắn ấy.
Nguồn tin: ubmvgiadinh.org

BẠO HÀNH TRONG HÔN NHÂN CĂN BỆNH MÃN TÍNH CỦA XÃ HỘI


Trần Mỹ Duyệt

Thỉnh thoảng báo chí, truyền thanh, truyền hình hoặc internet loan tin chị này cầm dao cắt đứt dương vật chồng ném vào thùng rác, ném xuống sông, bỏ vào máy xay. Anh kia dùng giao hăm dọa vợ, hay dùng súng bắn chết vợ con rồi quay lại tự sát. Hoặc chồng đánh vợ ngất xỉu phải vào nhà thương… Khi nghe, xem hoặc đọc những tin như vậy chúng ta thường cảm thấy xót thương cho các nạn nhân, và nguyền rủa những kẻ vũ phu, những người có tâm địa độc ác. Nhưng những lần vợ chồng đánh chửi nhau, gây thương tích cho nhau mà giấu diếm, hoặc phải âm thầm chịu đựng thì thường ngày vẫn xẩy ra như cơm bữa, và trong nhiều trường hợp chính mình lại là nạn nhân.    
Đúng vậy, chuyện bạo hành trong hôn nhân là một chuyện dài không có hồi kết thúc. Nó không chỉ xẩy ra ở Hoa Kỳ mà xẩy ra mọi nơi trên thế giới, đặc biệt ở những nơi mà dân trí thấp kém, trình độ văn hóa chưa được khai phóng. Nơi mà những cổ tục và tập quán còn man khai. Những nơi đó việc vợ bị chồng đánh đập, chà đạp nhân phẩm, hoặc việc vợ tru trếu, chửi bới, cào cấu chồng là chuyện thường ngày xẩy ra. Hành động này phát xuất từ nhiều nguyên nhân trong đó bao gồm văn hóa, xã hội, giáo dục, kinh tế, và đạo đức. Ngoài ra, tâm lý cũng là một nguyên nhân chính trong những nguyên nhân vừa kể. Vậy chúng ta phải nhìn bạo hành trong hôn nhân dưới cái nhìn tâm lý như thế nào? Và đâu là những phương pháp trị liệu cho hội chứng tâm bệnh này.

ĐẠI CƯƠNG VỀ BẠO HÀNH HÔN NHÂN
Khi đề cập đến bạo hành trong hôn nhân là nói đến những va chạm và hành động gây thương tổn về thể lý, tâm lý, và tâm linh giữa hai người trong cuộc. Giữa vợ và chồng. Sau đây là một số những hình thức bạo hành thông thường:

Bạo hành thể lý:
Là những hành động bao gồm đánh, đập, xiềng, xích, đấm, đá, cào, cấu, cắn, xé, đâm, chém, hoặc bắn bằng súng…
Là những lần bỏ đói, khát không cho ăn, uống. Đau ốm không lo thuốc men. Không đưa đến bệnh viện.
Những hành động này phần lớn gây đau đớn thể xác, đôi khi gây bệnh tật, thương tích, hoặc chết người.


Bạo hành tâm lý:
Là  những thái độ lạnh nhạt, thờ ơ, bỏ rơi, kình chống, thiếu cộng tác.  Là những cấm đoán chủ quan. Những hành vi theo dõi, dò xét, nghe lén. Những hành động ghen tương, giận hờn không tha thứ cho nhau.
Là những khủng bố về mặt đạo đức, như cấm không được đọc kinh, cầu nguyện, tham dự các nghi lễ tôn giáo…
Cũng như những hành động bạo hành thể xác, những bạo hành tâm lý để lại trong người nạn nhân những dồn nén, uất ức, tủi nhục, đau đớn có khi trở thành tâm bệnh. Những bệnh tật thể xác như nhức đầu, táo bón, mất ngủ, cao áp huyết, hoặc đột quỵ.


Bạo hành ngôn ngữ:
Những lời nói khích bác, chọc ghẹo, nhục mạ, dọa nạt, la hét, chửi bới. Những lời nói vu khống. Những lời nói làm đau đớn, tủi nhục, coi thường và làm hạ phẩm giá của nhau.  
  
Bạo hành sinh lý:
Là những hành động vũ phu, cưỡng ép, cưỡng chiếm nhằm thỏa mãn dục vọng mà từ ngữ chuyên môn gọi là bạo dâm, cuồng dâm. Những đòi hỏi nhằm thỏa mãn thú tính trong những hoàn cảnh nạn nhân mệt mã, đau yếu, hoặc bệnh tật. Hoặc ngược lại, những dồn nén sinh lý do việc luôn luôn bị từ chối hàng tuần, hàng tháng, hoặc hàng năm.  
Bạo hành sinh lý có thể đưa đến nhiều chứng bệnh về cơ thể, cũng như tâm lý và tâm thần. Thông thường nhất là hội chứng lãnh cảm, bất lực, liệt dương... Với cái nhìn phân tâm học, việc thiếu dung hòa sinh lý còn có thể đưa đến tâm bệnh.
 
Bạo hành kinh tế:
Là lường gạt, gian dối hầu chiếm đoạt tài sản, gia tài của nhau. Keo kiệt, hà tiện trong chi tiêu khiến cho cuộc sống trở nên thiếu thốn và gò bó. Hoặc ngược lại, xài phí, cờ bạc, nghiện ngập…gây khủng hoảng cho kinh tế gia đình.
  
VÒNG TRÒN LUẨN QUẨN
Thông thường khi có những hành động bạo hành xẩy ra dưới hình thức này hay hình thức khác, người chủ động cũng như nạn nhân bao giờ cũng lo tránh né, bào chữa. Phần vì sợ mất mặt với gia đình, bà con, bạn bè. Phần vì muốn hành xử theo cảm tính, nín nhịn cho xong. “Nói ra xấu thiếp, hổ chàng”.
Người có hành động vũ phu nếu như không trấn át được nạn nhân thì sẽ dùng khổ nhục kế, xuống nước năn nỉ. Thề độc, nào là xe cán, sét đánh, cọp tha, sấu ăn, hay cá mập phanh thây… Đứng trước những thái độ ấy, và với cái quyết tâm giả dối ấy, nạn nhân nặng về tình cảm, nhẹ dạ, sẽ dễ dàng tha thứ.  Nhưng rồi sau khi mặn nồng, êm ấm trở lại được vài hôm, vài tuần, có khi vài tháng, chứng nào tật nấy, và cái vòng luẩn quẩn sẽ tái diễn: Phạm lỗi, xin lỗi, tha lỗi, và tái phạm.


Phạm lỗi:
Người bạo hành sẽ dùng thủ đoạn, tình cảm, sức mạnh hoặc áp đặt để xúc phạm đến nạn nhân với lý luận là người vợ sẽ chẳng thể nào bỏ mình đâu. Hoặc người chồng sẽ chẳng làm gì được mình đâu. Bỏ mình là chết đói, bỏ mình là mất mặt, là tan nát sự nghiệp… Họ cũng dùng con cái, thể diện và thanh danh gia đình, đạo đức xã hội và tôn giáo để gây đau khổ, chết chóc cho chồng hoặc cho vợ dưới các hình thức thể lý, tâm lý, ngôn ngữ, sinh lý, và kinh tế.  

Xin lỗi:
Người bạo hành sau khi làm lỗi nếu không thể lấn át hoặc che đậy hành động của mình sẽ xuống nước năn nỉ, xin lỗi.
Họ lợi dụng các yếu điểm của nạn nhân như nặng về tình cảm, nặng về xác thịt, nặng về con cái, quá đề cao thể diện, nhẹ dạ, hoặc đạo đức tình cảm để đánh vào những yếu điểm ấy.
Như trên vừa trình bày, sẽ có những màn năn nỉ rất thiết tha, rất chân thành khiến nạn nhân mủi lòng. Chỉ một lần này thôi. Mở cửa nhà. Mở cửa phòng. Mở cửa lòng. Và kẻ có tội lại từ từ đột nhập.


Tha lỗi:
Sau những màn năn nỉ, than van, thề hứa, nạn nhân bỗng mủi lòng xót thương, độ lượng và tha thứ. Rồi màn tha lỗi, làm hòa lại xẩy ra. Sau những giây phút làm hòa thường là những giây phút ân ái mặn nồng trở lại. Đem nhau đi ăn nhà hàng. Sánh vai bên nhau đi nhà thờ, đi chùa. Rủ nhau đi xi nê, đi mua sắm. Hạnh phúc lại về. Nhưng một cái nhưng bất ngờ.

Tái phạm:
Vì không thật lòng, không muốn chừa và vì chỉ muốn lợi dụng lòng tốt, sự tha thứ của người phối ngẫu, hành động bạo hành lại xẩy ra, và thông thường cũng vẫn là những hành động mà họ đã làm cho nạn nhân đau khổ trước đó. 
Cái vòng luẩn quẩn trên là một cái vòng không có lối thoát cho những kẻ lưu manh, hoặc những nạn nhân nhẹ dạ.


NGUYÊN NHÂN
Đâu là nguyên nhân của những hành động bạo hành? Có nhiều nguyên nhân, nhưng sau đây là một vài nguyên nhân xét về khía cạnh tâm lý: Yêu miễn cưỡng. Thiếu trưởng thành tâm lý.  

Yêu miễn cưỡng:
Đây là một lỗi lầm rất lớn cho những người nghĩ rằng “cứ lấy đi rồi sẽ yêu”. Hoặc cho rằng mình sẽ mang mặc cảm tội lỗi nếu không thương hại người nào đó đang theo đuổi và đau khổ vì mình. Lấy về sẽ ấm tấm thân. Lấy theo môn đăng hộ đối. Hoặc cứ thử đi, nếu không hợp thì bỏ.  
Lấy rồi sẽ yêu. Thương hại mà lấy. Hoặc lấy rồi không hợp thì bỏ. Đây là những nguyên nhân chính trong khía cạnh tâm lý đã gây nên không biết bao nhiêu cuộc tình đổ vỡ, không biết bao nhiêu là nước mắt, và tủi hận cho nhiều đôi tình nhân. Tâm lý bỏ thì thương, vương thì tội ấy chính là lý nguyên nhân của bạo hành.
Ở điểm này cũng cần phải kết luận rằng, cha mẹ dùng quyền cưỡng ép con cái trong vấn đề hôn nhân là một trọng tội. Người dùng quyền lực, tiền bạc, và bất cứ hình thức mua chuộc nào để chiếm đọat thân xác, hay cuộc đời người khác ngòai sự tự nguyện yêu thương của người ấy cũng phạm trọng tội. Bạn bè làm chứng gian, che dấu cho nhau để lường gạt tình yêu và tình cảm người khác cũng can dự vào những hành động tội lỗi đáng trách.
Tình yêu không thể lừa dối. Không thể mua chuộc. Và cũng không thể áp đảo, cưỡng ép.


Thiếu trưởng thành tâm lý:
Trong hôn nhân, yếu tố tâm lý cũng chiếm một địa vị rất lớn. Con người bao gồm ba cuộc sống tập hợp gồm thể lý, tâm lý và tâm linh. Cuộc sống tâm lý chính là gạch nối và dung hòa giữa thể lý và tâm linh. Chính vì thế, nhiều người dù có chức quyền cao. Dù học thức rộng. Dù nhiều tiền nhưng hành động, nói năng, và cư xử vẫn thiếu tự trọng, thiếu trưởng thành, và không được đời kính nể.   
Vụng về trong giao tiếp. Tự ty và mặc cảm trong cung cách xử thế. Không dễ hòa hợp và nhận thức thế nào là nên hay không nên. Không tự chủ đuợc bản thân, ham muốn nên thường hành động nông nổi, ích kỷ, theo bản năng, cố chấp, hoặc những đòi hỏi của đam mê.   
Với suy nghĩ, nói năng và hành động như thế không cho phép những kẻ bạo hành phân biệt và nhận ra sự khác biệt cần thiết và hữu ích trong cá tính của người phối ngẫu, những khả năng của nhau, và những điều kiện sống của nhau. Và kết quả là dẫn đến những hành động vũ phu, bạo hành.

· Thiếu tự tin: 
Đây là một trong những hội chứng tâm lý thường thấy xuất hiện trong cuộc sống. Trong gia đình hiện tượng này được che đậy bởi hình ảnh sợ. Sợ chồng. Sợ vợ. Sợ bị chồng bỏ. Sợ bị vợ bỏ. Sợ chồng giận, vợ giận. Sợ mất lòng. Sợ gia đình mất hạnh phúc.  
Những loại người này thiếu tự tin này đối với vợ con, hay chồng con thì lớn lối, hung hãn nhưng khi ra trước công chúng hoặc đối diện với quần chúng thì bẽn lẽn, rụt rè, co cụm, và tránh né.
Một hình thức thứ hai của cá tính và hội chứng thiếu tự tin này là họ đóng kịch đạo đức rất hay, đến nỗi người ngoài mới giao tiếp với họ lần đầu rất dễ ngộ nhận. Họ lịch sự, nhũn nhặn, nhẹ nhàng, và tỏ ra hào sảng. Nhưng mặt trái cuộc đời họ là những gì hoàn toàn tương phản.
Để tự che dấu và bào chữa sự yếu kém ấy, những người này không còn lối nào khác hơn là trút đổ lên đầu, lên cổ vợ hoặc chồng là những người mà họ nghĩ rằng họ có thể lợi dụng được.

· Tự tôn:
Nếu thiếu tự tin là một hội chứng tâm lý tiêu cực, thì tự tôn cũng là một trong những hội chứng tâm lý tương tự. Người chồng hoặc người vợ tự tôn luôn luôn cho mình là đúng. Luôn luôn muốn làm chủ. Luôn luôn muốn kiểm soát, khống chế vợ hoặc chồng mình. Họ luôn luôn muốn chồng hoặc vợ phải nể mình, phải phục mình, và không làm trái ý mình. Nhưng trong thực tế lại không có những yếu tố cần để người khác kính nể và mến chuộng.
Đối với những người mang tâm tính này không có chữ sai, chữ kém, hoặc chữ sửa đổi trong tự điển cuộc sống của họ. Bởi vì họ luôn luôn biết tất cả, ngoại trừ cái yếu điểm là họ không biết mình là ai và đang làm gì!

·  Thiếu đạo đức:
Khi trình bày về tâm lý đạo đức, Lawrence Kolberg đã đưa ra bảng xếp hạng trong đó có ba thước bậc, và mỗi thước bậc lại chia thành hai mức khác nhau.
Theo nhà tâm lý đạo đức này, thì bậc thứ nhất của trưởng thành đạo đức là biết sợ và tránh làm điều xấu để khỏi bị phạt.  Tiếp đến là biết thế nào là được khen và cố gắng làm điều tốt để được khen. Sau cùng là ý thức được những luật lệ cần thiết chung quanh cuộc sống xã hội, và tự đưa ra những chuẩn mực đạo đức cho cuộc sống.
Người bạo hành đã không chứng tỏ được sự trưởng thành này. Không những không ý thức được điều tốt, và đón nhận cũng như tự ra cho mình những chuẩn mực đạo đức tối thiểu, mà họ còn chưa hiểu nổi thế nào là những hành động xấu, không chấp nhận sự sửa phạt của lương tâm, của xã hội về hành động xấu xa của mình.

LÀM SAO TRỊ LIỆU
Vì bạo hành trong hôn nhân là một tâm bệnh, và nó sẽ tái đi, tái lại nên việc trị liệu của nó cần phải có những hướng dẫn rất thực tế, và chuyên môn.  Trong hoàn cảnh bạo động gia đình xẩy ra, có ít nhất những phương pháp sau đây cần áp dụng: Đối diện sự thật. Hãy thương lấy mình. Trị liệu chuyên nghiệp.

Đối diện với sự thật:
Người bạo hành phải nhận ra mình có hành động ấy. Ý thức được hành động bạo hành gây đau khổ cho vợ, cho chồng. Chỉ khi nào sự nhận thức này được xác nhận, và ý thức lúc ấy mới hy vọng chấp nhận trị liệu.
Đối với nạn nhân của bạo hành cũng phải đối diện với sự thật là không nên bao che, không nên nhẹ dạ và dễ dàng tha thứ, tin tưởng vào những lời hứa hẹn sửa đổi suông. Nên nhớ điều này hành động ấy sẽ được tiếp tục tái diễn, và vì thế, một là chấp nhận sửa đổi, hai là tìm cách trốn chạy. Không thể sống chung hòa bình với người có hành động bạo hành.
Bước đầu trị liệu, do đó, chính là sự ý thức của người hành động và của nạn nhân. Che đậy, viện dẫn lý do này khác chỉ là lẩn trốn thực tế.


Hãy thương lấy mình:
Bước tiếp của hành động trị liệu đó là mỗi người phải nhận ra rằng mình cần phải thương lấy mình trước. Hãy thương lấy mình bằng cách tránh xa những cám dỗ, những lý do có thể gây nên những hành động bạo hành. Thương lấy mình là sống trưởng thành với cuộc sống và suy tư của mình.
Đối với nạn nhân của bạo hành, việc thương lấy mình là phải nghĩ đến mình, đến con cái mình. Nguyên tắc “Fight or Fly” là một nguyên tắc tâm lý rất hữu hiệu. Nếu nghĩ rằng mình có khả năng chinh phục, có sức chịu đựng và tha thứ mãi hành động bạo hành ấy thì cứ việc chịu đựng. Bằng nếu nghĩ rằng mình không có khả năng chịu đựng, không sống hạnh phúc được với người chồng, người vợ bạo hành thì con đường tốt nhất là xa khỏi con người ấy.
Thỉnh thoảng ta thường thấy trên các đài phát thanh, truyền hình, báo chí hoặc internet  những quảng cáo có thầy nọ, thầy kia làm bùa, gọi hồn, trấn yểm để mang người yêu trở về. Hoặc những vấn kế như kê bàn ăn, làm nhà bếp, chuyển giường ngủ theo hướng nam, hướng bắc… thì gia đình sẽ có hòa khí, hạnh phúc, bằng an. Chỉ cần một chút lý trí và hiểu biết, chúng ta cũng thấy đây là những lời xảo trá, lường gạt những kẻ nhẹ dạ, thiếu tự tin và thiếu trưởng thành. Nếu chỉ cần chuyển cái bàn ăn, kê lại gường ngủ, hoặc đổi lại hướng nhà bếp thì làm gì cần đến các văn phòng luật sư, tòa án, nhà tù, hoặc các bệnh viện tâm thần cho những kẻ bắn vợ, cắt dương vật chồng. Hoặc những người đã đem cả gia tài, sự nghiệp nướng vào những sòng bài đen đỏ, những nghiệp ngập say sưa.
Tóm lại, muốn sống trưởng thành, sống hạnh phúc, và sống bình an với chính mình, với vợ với chồng thì điều cần biết nhất vẫn là tôi là ai? Và tôi như thế nào lúc này? Tôi cần phải thay đổi quan niệm, lối sống và hành động như thế nào cho phù hợp với hiện tại của mình.
Để biết thế nào là thương lấy mình, thì trước hết người chồng cũng như người vợ phải cố gắng sống bằng khả năng và ngành nghề của riêng mình. Trước khi bước vào đời sống hôn nhân, cũng như đang khi sống trong đời sống ấy phải chứng tỏ cho chồng hoặc cho vợ rằng mình là người có lối sống và tinh thần tự lập, trách nhiệm. Không mang mặc cảm ăn bám, hoặc sống dựa. Không để chồng hoặc vợ khinh bỉ vì mình ươn lười hoặc thiếu thiện chí và cố gắng.  


Trị liệu chuyên nghiệp:
Tuy nhiên, như đã vừa trình bày, bạo hành có yếu tố của tâm lý bất ổn, nên việc trị liệu cần thiết phải có những giúp đỡ chuyên môn.
Như đã trình bày, hành động bạo hành bắt đầu với nhiều lý do chằng chịt từ thể lý đến tâm lý và tâm linh. Hành động này có thể phản ảnh những cảnh xào xáo ngay chính trong gia đình họ. Và họ cũng là những nạn nhân của hành động bạo hành trong gia đình khi còn nhỏ.
Cũng có thể, họ là nạn nhân của ảnh hưởng xã hội, sống trong bối cảnh chung quanh người ta cãi cọ, chửi bới, và bắt nạt lẫn nhau. Ảnh hưởng của bạn bè   bước vào con đường nhậu nhẹt, rượu chè, nghiện hút, cờ bạc. Cảnh người bắt nạt người, người làm khổ người đã ảnh hưởng đến tâm lý sống của những kẻ bạo hành. 
Tùy theo tầm nhìn, ảnh hưởng và quan niệm của mỗi cá nhân, mỗi trường hợp, trường hợp chữa trị chuyên nghiệp đây có thể là:

- Sự can thiệp của cảnh sát, tòa án.
- Những lời khuyên của các vị lãnh đạo tinh thần, của những bậc trưởng thượng trong dòng họ, gia đình, cũng như bạn thân có tầm ảnh hưởng lớn.

- Sau cùng nhất là văn phòng các bác sỹ tâm lý, bác sỹ tâm thần.
Tóm lại, bạo hành là một hành động bệnh hoạn. Nó có nguồn gốc từ nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng đây không phải là căn bệnh không có thuốc chữa, chỉ có một điều là cả hai có muốn chữa hay không? Và có may mắn tìm đúng thầy, đúng thuốc hay không?!!! 


XÂY DỰNG MÙA XUÂN CHO CON CÁI



(7 CÁI THIẾU TRONG GIÁO DỤC GIA ĐÌNH HIỆN NAY)
 
Sự thành công của học sinh, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài đã làm cho nhiều người thán phục và thắc mắc. Một trong những nguyên nhân đã được xác nhận, tại Hoa Kỳ và ở Đức, đó là sự hỗ trợ và liên đới của gia đình : bầu khí gia đình, sự quan tâm của gia đình hay ý thức trách nhiệm đối với gia đình.

Sự kiện này làm cho nhiều người nước ngoài thèm thuồng, bởi vì tình trạng gia đình ở nước họ có nhiều vấn đề.
Tại Việt Nam chúng ta, truyền thống và văn hóa gia đình dù sao vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Song nhiều người đã lên tiếng báo động trước những hiện tượng tiêu cực của giới trẻ : con số trẻ em đường phố gia tăng, tội phạm hình sự trong giới thanh thiếu niên, các vụ phá thai của những cô gái còn ngồi ghế nhà trường ...

Ngay trong các gia đình anh chị em chúng ta, việc giáo dục gia đình có được quan tâm đúng mức không? Hiện nay chúng ta đang chịu một áp lực xã hội rất lớn, ở mọi mặt : chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khiến không dễ một mình lội ngược dòng. Dù sao trách nhiệm vẫn còn đó, và nền giáo dục mà chúng ta đã được hưởng không cho phép mình khoanh tay nhắm mắt đối với hạnh phúc tương lai của con cái.

Xin mạn phép chia sẻ với anh chị 7 cái thiếu cần quan tâm trong giáo dục gia đình, nhằm động viên nhau xây dựng cho con emmột mùa xuân mới ngay tại gia đình mình.

1. 
CHA MẸ THIẾU THỜI GIỜ CHO CON CÁI

Mỗi ngày, anh chị dành cho con cái và từng đứa con được mấy phút? Và được mấy phút vui vẻ, êm ấm cha con, mẹ con vui đùa với nhau thoải mái, yêu thương?

Chơi với con : là một mối giây liên kết mình với con cái bền chặt hơn nhiều thứ khác.

2. 
CON CÁI THIẾU TƯƠNG QUAN VỚI NGƯỜI KHÁC

Gia đình ngày nay chủ trương ít con, một hay hai con mà thôi. Những đứa con một thiếu tương quan với người khác ngay trong gia đình của mình. Song nhiều con em bây giờ cũng ít gặp gỡ sống với người khác do bận học hành quá nhiều, học ở trường, học thêm, học năng khiếu. Không còn nhiều giờ để sống với bạn bè, anh em, người thân quen. Nhà trường nhấn mạnh quá về kiến thức. Ít chú trọng đến lễ nghĩa, tương giao. Và ngay khi sống tương giao, cái phẩm chất vẫn còn là một vấn đề. Chẳng hạn thái độ mô phạm của thầy giáo hay những nhận định của cha mẹ về thầy cô con cái có thể nghe được.

3. 
THIẾU TÍCH CỰC TRONG SUY NGHĨ PHÊ PHÁN

Trẻ em Việt Nam ngày nay dành mấy giờ mỗi ngày để xem tivi, video, chơi trò điện tử ... Thời gian ngồi trước màn ảnh nhỏ tạo cho người xem thái độ thụ động, chỉ hấp thu mà ít phản ứng.

Làm sao tạo cho con cái chúng ta một thái độ tích cực tiếp thu những gì mình xem, mình đọc, mình nghe. Nói chuyện với con cái có thể giúp chúng ta nghe biết những gì con cái thu nhận và tạo điều kiện để gây suy nghĩ, đặt vấn đề và soi sáng. Cần phải biết đánh giá, chọn lựa trước mọi thứ xã hội bên ngoài áp đặt cho mình.

4. 
THIẾU SỰ TRUNG THỰC

Sự trung thưc ngày nay, có lẽ phải đốt đuốc mới tìm thấy. Giả dối lại có thể tìm thấy khắp nơi: đồ giả, hàng giả, bằng giả. Học sinh đi thi, photocopy bài để cóp là chuyện bình thường. Nếu tương lai của con em chúng ta không được xây dựng trên chính thực lực của chúng mà chỉ dựa vào tiền bạc, thế lực và mánh khóe thì làm sao đứng vững được ?

5. 
THIẾU TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

Xã hội giải bày một tinh thần trách nhiệm cao độ : các công trình thi công trên đường phố, chuyện giao thông hàng ngày, những tội phạm báo chí phơi bầy về tham nhũng, hối lộ, lạm dụng của cải xã hội chủ nghĩa... Gia đình cần góp phần giáo dục cho con em tinh thần trách nhiệm về bản thân, về gia đình, về người khác... Con người không sống theo chính lương tâm ngay thẳng của mình sẽ là người như thế nào khi có một chút quyền lực nào có trong tay ?

6. 
THIẾU THIÊN CHÚA TRONG ĐỜI MÌNH

Các xã hội Đông Âu và Liên Xô cũ cho thấy việc loại trừ tôn giáo đã kéo theo những hậu quả nào : một xã hội phi đạo đức. Sự trống vắng Thiên Chúa trong xã hội Tây Phương cũng cho thấy những hậu quả tương tự. Còn thiếu vắng Thiên Chúa trong gia đình thì sao? Ly dị, phá thai, lạm dụng tình dục và bao nhiêu thứ chuyện khác. Trong gia đình của chúng ta, có thể vẫn có những hình tượng của Ngài, nhưng một Thiên Chúa sống động là Cha, quan phòng một Thiên Chúa hy sinh trên thập giá mời gọi các môn đệ chấp nhận hy sinh, một Chuá Thánh Thần sống động trong tâm hồn mỗi người: Thiên Chúa ấy, con cái chúng ta có nhận thấy Ngài hiện diện trong gia đình không?

7. 
THIẾU NHỮNG TẤM GƯƠNG SÁNG

Cuối cùng và có thể nói là tóm chung lại, giáo dục gia đình cần trước hết là những tấm gương mẫu mực, mô hình cho con cái.

                        Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng .
                        Lời nói bay mau, gương sáng còn mãi.

Trong những ngày này, chúng ta có thể tự hỏi với nhau : Anh chị em chúng mình để lại cho con cái những tấm gương nào? Con cái theo bước cha anh: cái gì nơi chúng ta có thể soi đường dẫn lối cho con cái mình sau này? Chúng ta đã làm gương cho con cái như thế nào trong lời ăn tiếng nói, cách ăn mặc đi đứng, cách sử dụng tiền bạc, phương tiện giải trí, cách làm việc, nghỉ ngơi, cách đối xử với nhau giữa vợ chồng, bạn bè, cách lái xe, cách phục vụ quê hương, cách yêu mến Chúa và người khác...

Mùa xuân mới, không chỉ là quà tặng của thiên nhiên, cứ theo chu kỳ mà trở lại. Mùa xuân mới của con em chúng ta còn chính là cuộc sống nơi gia đình, mà cha mẹ ông bà và những người thân quen không ngừng tạo dựng cho con cháu. Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng cho con cái mình một mùa xuân mãi mãi hạnh phúc và bình an.

(Bài nói chuyện của Đức Cha Phao lô Nguyễn Văn Hòa với một số gia đình)

HÔN NHÂN GIA ĐÌNH – MỘT CẤU TRÚC IN ĐẬM DẤU VẾT THẦN LINH


LM: ANTÔN HÀ VĂN MINH

Gia Đình Thánh
Hơn bao giờ hết, cấu trúc gia đình đang đứng trước thách đố lớn lao trong một thời đại mà chủ nghĩa tục hóa như đang chi phối mọi lãnh vực của cuộc sống. Định chế hôn nhân đang từng bước đi đến chỗ hủy hoại trước cơn lốc xoáy của chủ nghĩa duy lợi, chủ trương tự do luyến ái, ủng hộ đồng tính luyến ái, làn sóng “phủ nhận những nguyên tắc luân lý đang soi sáng và nâng đỡ việc thực hành tính dục trong hôn nhân cách nhân bản và Ki-tô giáo”.[1] Khế ước hôn nhân không còn là giao ước kiến tạo một đời sống chung thân mật và cộng đoàn tình yêu vợ chồng, nhưng đã trở thành một bản hợp đồng với chủ đích làm sao đạt đến một lợi lộc mang tính cá nhân, hay như một phương thế giải quyết cho những rắc rối trong xã hội. Điều gì sẽ xảy đến cho con người khi gia đình như là tế bào đầu tiên của xã hội đang đối diện với khủng hoảng này? Hậu quả trước mắt mà chúng ta có thể nhận thấy được đó là hiện tượng ly dị trở thành sinh hoạt bình thường trong đời sống xã hội, nạn phá thai không còn được coi đó như là một tội ác, trẻ em phạm pháp ngày càng nhiều, và cuộc sống càng trở nên bất an hơn bao giờ hết.

Để tìm lại trật tự và an bình xã hội trước tiên cần phải tái khám phá giá trị cao quí của định chế hôn nhân gia đình, một định chế vượt trên mọi định chế của thế trần, bởi nó được in đậm dấu vết thần linh, bởi “Thiên Chúa là Tình yêu và nơi chính mình Ngài, Ngài đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Ngài và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người”[2].
1- Cấu trúc gia đình như là dấu chỉ mối tương quan ngôi vị trong nội tại Thiên Chúa Ba Ngôi
Hôn nhân và niềm tin
Sum vầy ngày xuân
Ngay từ buổi ban đầu của công trình tạo dựng Thiên Chúa đã đặt để muôn loài sinh vật hiện hữu trong một cấu trúc in đậm mối tương giao cộng đoàn, và đặc biệt, khi tạo dựng con người Thiên Chúa đã tỏ bày ý định cách rõ ràng sự hiện hữu của thụ tạo này tỏ lộ hình ảnh của Thiên Chúa: Chúng ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh của chúng ta. Hình ảnh đó chính là khuôn mặt của một vị Thiên Chúa tình yêu, một Thiên Chúa không đơn độc trong một ngôi vị duy nhất nhưng là sống động phong nhiêu (fertility) trong ba ngôi vị. Thật vậy, khi nói đến tình yêu là nói đến ba hiện thực của mối tương quan, như thánh Augustinô đã trình bày: “Hãy coi, đó là ba: người đang yêu, kẻ được yêu và tình yêu”[3]. Thiên Chúa chính là Đấng mà nơi đó “một Ngôi vị nhiệm hiệp với một Ngôi vị hiện hữu khác phát xuất bởi mình bằng tình yêu; một Ngôi vị, nhiệm hiệp với một Ngôi vị làm cho mình hiện hữu bằng tình yêu; và một Ngôi vị là chính tình yêu”[4]. Vâng, Thiên Chúa đã tự tỏ bày như là “Cha”, “cội nguồn” của một Tình yêu vô bờ bến, một tình yêu mà Ngài đã tự do trao ban cách nhưng không; Thiên Chúa đó cũng tự tỏ bày như “người Con”, như “Lời” (Logos) của tình yêu này. Lời hiện hữu qua việc đón nhận tình yêu của Cha, đồng thời đáp trả tình yêu này với lòng biết ơn đối với Cha; Thiên Chúa như là Cha và Con cũng được tỏ bày trong Chúa Thánh Thần được hiểu là “không gian” của Tình yêu “cho” và “nhận” giữa các Ngôi vị tạo thành sự hợp nhất nên một. Trong Thánh Thần này, Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài và tỏ cho họ biết nguyên lý thâm sâu nhất của sự hợp nhất và của đời sống họ nhằm đưa họ bước vào biến cố cứu độ của Tình yêu Người. Như vậy con người được tạo dựng, được cứu chuộc theo cấu trúc tình yêu như chính Thiên Chúa là: trao ban, đón nhận và đáp trả với lòng biết ơn vô hạn.
Chỉ với cấu trúc tình yêu này, sự sống mới có thể tuôn trào, và công trình tạo dựng của Thiên Chúa mới được hình thành. Đức Bênêđictô XVI đã quả quyết: “Mọi sự đều bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa, mọi sự đều được định hình bởi tình yêu ấy, và mọi sự đều qui hướng về tình yêu ấy”[5]. Quả thật, nếu Thiên Chúa không là tình yêu, thì chẳng có chi được tạo thành, chẳng có gì được hiện hữu. Mọi hiện hữu đều phát sinh từ Thiên Chúa và đều in đậm ấn dấu tình yêu của Ngài. Dấu ấn này được tỏ lộ các rất đặc biệt nơi con người, một loài thụ tạo được tạo dựng “giống hình ảnh của Thiên Chúa”, hình ảnh của một tình yêu “trao ban - đón nhận - đáp trả với lòng biết ơn vô hạn” trong mối tương quan giữa các ngôi vị, được trình bày qua việc Thiên Chúa “đã tạo dựng có nam và có nữ” (Stk 1,2-7) ngay từ khởi thủy, và đã liên kết họ lại làm nên một cộng đoàn đầu tiên được gọi là gia đình.  Chính nơi đây cấu trúc tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày trong mối tương giao giữa vợ chồng, và bằng một hành vi nhân linh họ tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa (x. GS số 48). Với hành vi tự hiến cho nhau vợ chồng cộng tác với Thiên Chúa Tạo dựng, và diễn đạt tình yêu của Ngài, để từ đó tiếp tục làm nảy sinh sự sống qua việc truyền sinh. Đây là ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại.
Ân huệ này làm cho con người trở nên “người chung phần với Đấng Tạo Dựng” (participes Creatoris), có nghĩa là được dự phần vào vào những ý định của Thiên Chúa và lề luật của Ngài đã ban cho thế giới khi Ngài tạo dựng nên nó vào lúc khởi đầu thời gian[6]. Chính điều đó làm cho con người là một thụ tạo có giá trị trổi vượt. Tuy nhiên không vì được gọi là participes Creatoris mà con người tự dành cho mình quyền quyết đoán giá trị về cuộc sống theo tiêu chuẩn mình đề ra, vì chỉ có Thiên Chúa mới là nguyên nhân tối hậu của mọi giá trị, con người không có thẩm quyền thay đổi những luật lệ và trật tự tự nhiên mà Thiên Chúa đã đặt để trong thế giới. Và ngay cả cấu trúc hôn nhân gia đình cũng không nằm ngoài ý định của Thiên Chúa, bởi đó nó không là một sáng kiến của con người, cho nên con người không có quyền thay đổi nó. Mọi sự can thiệp hầu làm cho cấu trúc đó thay đổi tự bản chất theo khuôn mẫu do con người đề xướng đều là việc làm phát xuất từ sự dữ, cho dẫu con người hành động nhân danh bảo vệ và tôn trọng sự tự do cá nhân trong việc biểu lộ tình yêu. Mọi sự thay đổi về cấu trúc tự nhiên của hôn nhân gia đình chỉ là hành vi phá hoại hủy diệt vẻ đẹp, sự phong phú và giá trị cao trọng của nó, và hậu quả là xã hội sẽ phải đón nhận những bất ổn với những hậu quả khó lường. Thật ra, tự do chọn lựa đối tượng yêu thương chỉ mang lại giá trị đích thực khi tự do lệ thuộc vào ý chí luôn khao khát sự lành, và ý chí này được biểu tỏ qua tình yêu luôn hướng đến việc trao cho nhau những điều tốt lành hết sức có thể.[7]
Thiên Chúa hằng sống bởi Ngài là Thiên Chúa tình yêu, vì tình yêu là nguyên nhân của sự sống. Tình yêu này được hình thành trên nguyên lý: trao ban, đón nhận và đáp trả với lòng biết ơn vô hạn giữa các ngôi vị, từ đó kiến tạo sự hiệp thông để trở nên một. Cấu trúc hôn nhân gia đình được Thiết Chúa thiết lập trên nguyên lý này. Do đó, mọi tình yêu đi ra ngoài nguyên lý này thì không thể được gọi là tình yêu chân thật. Đó chỉ là tình yêu giả hiệu, biến thành những cảm tính chóng qua trống rỗng, và được lấp đầy bằng những gì mà mình yêu thích. “Tình yêu trở thành tế vật cho những xúc cảm và ý kiến chủ quan chóng qua, một từ ngữ bị lạm dụng và nát vụn đến độ mang ý nghĩa đối nghịch”[8], để rồi nó trở thành nguyên nhân của sự hủy diệt, bởi đó chỉ là một thứ tình yêu vị kỷ, đơn độc, không có trao ban và tận hiến nên một thì không thể nảy sinh sự sống.
Thiên Chúa không hiện hữu trong một ngôi vị đơn độc, vì Ngài là Thiên Chúa tình yêu. Ngài hiện hữu với ba ngôi vị trong tình yêu tương hỗ có một sự thúc đẩy mãnh liệt, và theo nhà thần học kinh viện Richard St Victor, sự thúc đẩy đó bắt nguồn từ sự khao khát, lòng ước muốn. Đó chính là nguồn mạch của tình yêu, nó thúc đẩy tình yêu củangười yêudành cho người được yêu, cũng như tình yêu của người được yêu dành cho người yêu bằng một hành vi yêu thương mãnh liệt vô song. Tình yêu tương hỗ không dừng lại ở hai vế, nhưng niềm vui và sự hoan lạc của tình yêu trọn hảo giữa người yêu và người được yêu tiếp tục trao ban và hướng tới một nhân vật thứ ba cùng bản tính trong mối dây liên kết tình yêu, được gọi là người cùng được yêu (condilectus). Yêu thương như thế mới là tình yêu hoàn hảo đích thực, một tình yêu chỉ có nơi Thiên Chúa[9]. Cấu trúc gia đình được hình thành từ suối nguồn tình yêu này, một cấu trúc mang lại sự sống phát xuất từ một tình yêu giao hỗ từ hai nhân vị không cùng một giới tính với những thuộc tính riêng biệt mang đặc tính bổ sung cho nhau, hướng về nhau.  Những thuộc tính riêng biệt của giới này có một hấp lực lôi cuốn giới kia, để cả hai tìm đến nhau mà người ta gọi là tình yêu. Thật ra, đây chưa được gọi là tình yêu đúng nghĩa của nó, đó mới chỉ là tình ái (eros) được thôi thúc bởi tính dục. Và theo nhận định của Đức Bênêđictô XVI, do bởi tội lỗi, con người đã tôn vinh thân xác, đã biến động lực tình ái (eros) thành hành vi đơn thuần là tình dục (sex), nó trở thành hàng hóa người ta có thể mua bán[10].
Cấu trúc gia đình sẽ gặp khủng hoảng và đưa đến gãy đổ nếu tình yêu chỉ là tình dục. Thực ra, tình ái (eros) không chỉ là tình dục, thực bản chất nó “muốn đưa chúng ta đến bầu khí thần linh, vượt lên khỏi chúng ta, vì thế nó đòi buộc một con đường vươn lên, từ bỏ, thanh luyện và chữa trị”[11]. Con đường thanh luyện eros là tìm lại đúng ý muốn của Thiên Chúa khi thiết lập nên định chế hôn nhân gia đình như là dấu chỉ về mầu nhiệm Thiên Chúa Tình yêu. Con đường thanh luyện trước tiên phải là hành vi khước từ chiếm đoạt “động lực tính dục” như là cái gì thuộc tư hữu để rồi tìm mọi cách để thỏa mãn, trái lại ý thức rằng việc trao đổi “động lực tính dục” giữa hai người nam nữ là “góp phần mang một con người mới vào thế giới qua sinh sản, và đồng thời tham gia vào công cuộc tạo dựng theo ý mình. Vì thế, họ có thể coi mình như những người đồng tạo dựng có ý thức để sinh ra một ninh vật nhân tính mới, tức con người”[12]. Để được như vậy, hành vi yêu thương bắt đầu bằng eros sẽ phải được vươn lên thành agape, có nghĩa là yêu một ai không là chiếm đoạt người đó để thỏa mãn cho riêng mình, nhưng là ước muốn cho người mình yêu đạt được hạnh phúc, nỗ lực mang lại những điều thiện hảo, và sẵn tự hiến cho người mình yêu[13]. Đấy nguyên lý của tình yêu Thiên Chúa, và đó cũng là nền tảng cho định chế hôn nhân gia đình. Mối tương giao liên vị sâu xa giữa vợ chồng được khởi xướng bởi tình yêu kết hợp hoàn hảo giữa hai yếu tố eros và agape là nền tảng cho cấu trúc gia đình và được coi như dấu chỉ của mối tương quan ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.
2- Đặc tính bất khả phân ly của cấu trúc gia đình là dấu chỉ duy nhất tính của Thiên Chúa Ba Ngôi
Tín biểu của Công đồng Nicêa – Constantinôpôli bắt đầu bằng lời tuyên tín: Credo in unum Deum. Việc tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất là nền tảng đức tin Kitô giáo. Thiên Chúa duy nhất xét theo bản thể, bản tính và yếu tính. Đặc tính duy nhất nầy được biểu tỏ trong Ba Ngôi phân biệt qua sự hiệp thông (oikonomia) được diễn tả theo ngôn ngữ của con người như sau: ý muốn của Chúa Cha, ý muốn đó được biểu lộ trong sứ mệnh và trong hành động của Con và của Thánh Thần, đó cũng là ý muốn của Con, của Thánh Thần. Đây là ý muốn duy nhất, nơi đây không có sự khuất phục của ngôi này đối với ngôi kia, không có việc ngôi kia lệ thuộc ngôi nọ. Sự thấm nhập giao hỗ ý muốn của các ngôi vị từ Cha, Con và Thánh Thần được thể hiện qua mối dây tương hỗ giữa Ba Ngôi (perichorese). Chính sự sự thấm nhập giao hỗ này kiến tạo nên duy nhất bản thể Thiên Chúa. Và có thể nói, gia đình, một định chế do Thiên Chúa thiết lập, cũng in đậm đặc tính duy nhất của Thiên Chúa theo mối tương quan giao hỗ này giữa hai vợ chồng - dĩ nhiên vì là thụ tạo, con người không thể thực hiện mối tương quan giống như Thiên Chúa, vì thế mối tương quan vợ chồng chỉ là phản ảnh một thực tại siêu nhiên -  Sách Sáng Thế đã trình bày: từ chiếc xương sườn của người đàn ông Chúa đã dựng nên người phụ nữ (St 2, 22), như là căn nguyên của duy nhất tính trong cấu trúc hôn nhân gia đình. Chính Adam đã khẳng quyết: đây xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi (St 2, 23), và rồi ông đã kết hợp với Eva và cả hai trở nên một xác thịt (St 2, 24).
Một trong những đặc tính cốt yếu của tình yêu hiệp thông nên một chính là sự trung tín.  Trong lịch sử cứu độ Thiên Chúa đã tỏ mình là một Thiên Chúa trung tín. Do đó, trung tín không là một yếu tố bên ngoài được thêm vào, nhưng nó thuộc về yếu tính của mối tương quan tình yêu giao hỗ (perichorese) nơi Thiên Chúa Ba Ngôi đến nỗi nếu thiếu nó thì yếu tố duy nhất của Thiên Chúa sẽ không thể có.  Thiên Chúa không chỉ duy nhất trong đời sống nội tại của Ba Ngôi, nhưng còn duy nhất ngay cả khi Ngài biểu tỏ ra bên ngoài. Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta trong sự thông hiệp (oikonomia) của việc tự tỏ bày chính mình. Thiên Chúa gặp gỡ chúng ta trong Nhiệm cục Cứu chuộc không chỉ được nhận biết như là Đấng Ba Ngôi, nhưng mỗi một Ngôi vị còn được nhận biết qua hành động nơi Lịch sử Cứu chuộc trong mối tương quan nguyên thủy Ba Ngôi nội tại, đó là mối tương quan bản thể duy nhất . Do đó: “Thiên Chúa quan hệ với chúng ta trong tính cách Ba Ngôi,  và mối quan hệ Ba Ngôi đối với chúng ta này không chỉ là họa ảnh hay sự tương tự (analogie) về Ba Ngôi nội tại, nhưng đó chính là Ba Ngôi nội tại”[14]Đây chính là khuôn mẫu cho việc thiết lập định chế hôn nhân và gia đình trong công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa.
Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “ngay từ ban đầu, Ðấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Ngài đã phán: Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 4 – 6). Thế giới hữu hình này có thể đọc được mối tương giao kiến tạo sự duy nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi ngay trong định chế hôn nhân gia đình mà Ngài đã thiết lập, và định chế đó được coi như dấu chỉ của tình yêu Ngài trong thế giới hữu hình. Có thể nói được rằng, Thiên Chúa đã đặt để trong định chế hôn nhân yếu tố trung tín làm cho định chế đó được bền vững nên một. Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định: “sự bất khả phân ly của hôn nhân dựa trên nền tảng là ý định Thiên Chúa đã bày tỏ trong mặc khải của Ngài: chính Ngài muốn hôn nhân phải bất khả phân ly và Ngài ban cho nó ơn này như kết quả, dấu chỉ và đòi hỏi của tình yêu tuyệt đối trung thành mà Thiên Chúa đã có đối với con người và là tình yêu mà Chúa Giê-su đã tỏ ra đối với Hội Thánh”[15]. Bởi đó, đặc tính trung tín trong định chế hôn nhân không là một nhân đức được hình thành do luyện tập bởi ý chí, nhưng nó thuộc yếu tính không thể thiếu của mối tương giao vợ chồng trong định chế này. Thật vậy, vì trở nên một xương một thịt, vợ chồng trong định chế hôn nhân tuy là hai hữu thể riêng biệt, nhưng đã trở nên một trong một mối tương giao tình yêu duy nhất: vợ - chồng. Trong mối tương giao này cả hai vợ chồng không những trao ban cho nhau một tình yêu hiến dâng để mong sao cho người mình yêu nhận được sự thiện hảo và hạnh phúc, nhưng mỗi người còn phải biết đón nhận tình yêu được trao ban với lòng biết ơn và hết lòng bảo vệ nó như quà tặng không gì so sánh được.
Quả thật, định chế hôn nhân gia đình được xây dựng trên nền tảng của một tình yêu trao ban và đón nhận, từ tình yêu này tuôn trào nguồn sống làm cho nhân loại càng ngày càng sinh động và phong phú. Tuy nhiên, định chế này chỉ có thể đạt tới mục đích của nó khi mối tương giao vợ chồng được thể hiện trong một tình yêu thấm được sự công bằng. Có nghĩa là tình yêu giữa vợ chồng là trao ban cho nhau điều thuộc về mình, nhưng sự trao ban thôi chưa đủ, vì chỉ trao ban sẽ dẫn đưa tới thái độ “bề trên” trong mối tương giao, và vợ chồng sẽ coi nhau như những người nhận ơn, và đòi hỏi mỗi người cần phải thi hành những yêu cầu của nhau như là hành vi đáp đền. Điều đó tạo ra những vết nứt làm cho sự tín trung bị sứt mẻ, và sự bền vững của gia đình bị chuyển lay. Bởi đó, để thực hiện tình yêu trao ban, trước tiên vợ chồng phải trả lại cho nhau điều thuộc về của vợ hay của chồng dựa vào sự công bằng[16]. Điều thuộc về của vợ hay của chồng chính là tình yêu của từng người dành cho nhau, là sự tự do và phẩm giá của nhau. Vì thế, mọi sự lừa dối, thái độ gia trưởng cữỡng bức, bạo lực, những đòi hỏi ích kỷ trong mối tương giao vợ chồng đều là hành vi bất công, nó sẽ loại trừ tình yêu và làm hoen mờ mục đích cao trọng của định chế hôn nhân gia đình là “khám phá ra ‘căn tính’ của nó, cái nó ‘là’, và  khám phá ra ‘sứ mạng’ của nó, cái nó có thể và phải ‘làm’. Những bổn phận mà gia đình được Thiên Chúa mời gọi phải chu toàn trong lịch sử đều bắt nguồn từ hữu thể độc đáo của nó, và là cách diễn tả sự phát triển năng động và hiện sinh của nó. Mỗi gia đình khám phá và gặp được nơi chính mình lời mời gọi cấp bách ấy, cũng chính là lời mời gọi xác định đâu là phẩm giá và trách nhiệm của gia đình: Hỡi gia đình, ‘hãy trở nên’ cái mà ngươi ‘là’”[17]. Là “cộng đoàn sự sống và tình yêu” gia đình được Thiên Chúa giao sứ vụ “giữ gìn mặc khải và thông truyền tình yêu”, là dấu chỉ sống động cũng như dự phần thực sự vào tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, và vào tình yêu của Đức Ki-tô đối với hiền thê Người là Hội Thánh[18].
Đứng trước sự gia tăng con số ly dị, và những hậu quả tồi tệ đối với xã hội do sự gẫy đổ của định chế gia đình mang lại, liên hiệp quốc vào ngày 9/1993 đã thông qua việc thành lập ngày quốc tế gia đình (15-5) nhằm cổ võ việc bảo tồn và phát huy những giá trị gia đình như là tế bào đầu tiên của xã hội. Để lành mạnh háo xã hội không thể làm gì khác hơn là phải quay trở lại với những yếu tố cơ bản của xã hội, chính là định chế gia đình.  Thế nhưng những nỗ lực của Liên Hiệp Quốc đã mang lại được kết quả gì? Đó là câu hỏi khó tìm được câu trả lời, bởi càng ngày xã hội càng bất an, bạo lực nơi giới trẻ càng ngày càng tăng, và nền tảng cốt lõi của định chế gia đình như hôn nhân là giao kết giữa hai người khác giới tính, tính bền vững bất khả phân ly của giao ước hôn nhân, việc truyền sinh, việc kết hôn với ý thức trách nhiệm về đời sống gia đình…vẫn bị chà đạp và coi thường.
Thật vậy, định chế gia đình không thể được củng cố, và xã hội không thể tìm thấy được sự an vui nếu con người không tìm lại gốc rễ của đời sống hôn nhân gia đình. Như đã trình bày, đây không là định chế do con người thiết lập, nhưng do bởi chính Thiên Chúa, cho nên vấn đề cốt lõi là phải tìm lại căn tính của gia đình ở nơi chính Thiên Chúa, chứ không thể nơi con người. Nhưng tiếc thay, con người quá cao ngạo, với những khả năng mà Thiên Chúa trao ban, con người cứ ngỡ mình là toàn năng, nỗ lực loại trừ Thiên Chúa, và cho mình có thể hành động thay ThiênChúa, tự mình mang lại hạnh phúc cho chính mình. Nhưng, ở đâu vắng bóng Thiên Chúa, ở đấy chỉ có tối tăm, khổ đau. Chẳng ai có thể tự ban cho mình hạnh phúc đích thật, bởi tự nơi con người cũng chỉ là những thụ tạo bất toàn, hư vô như Gióp đã nói: “Thân trần truồng sinh ra từ thai mẫu, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng” (G 1, 20), vì chỉ có Thiên Chúa là nguồn phú túc và chỉ có Ngài mới làm cho mọi sự tồn tại mãi (Gv 3, 14). Cho nên, nhiệm vụ của người Kitô hữu là phải trình bày vả phải sống làm sao để giúp cho người ta nhận ra rằng: Thiên Chúa là yêu tố thiết yếu đầu tiên trong việc lành mạnh hóa xã hội. Do đó, tìm lại căn nguyên của gia đình, chính là khám phá định chế hôn nhân gia đình như là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại, để qua đó con người biết canh tân đời sống gia đình, trả lại giá trị đích thật của nó và nhận ra rằng, “ở đâu hai người sống cho nhau và sinh con, ở đó cũng có giao tiếp với sự thánh và với mầu nhiệm làm người, là những thứ vượt lên những gì ta tự có. Tôi không đơn giản chỉ là tôi mà thôi. Trong mỗi con người có một bí ẩn thần thánh. Vì thế, việc sống chung giữa người nam và người nữ cũng đưa vào vòng tôn giáo, vào vòng thánh thiêng, vào trách nhiệm trước Thiên Chúa”[19]. Bao lâu còn khám phá định chế hôn nhân gia đình là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, bấy lâu nhân loại sẽ còn tìm thấy một xã hội phong phú, nhân cách và phẩm giá con người không bị tổn hại kiến tạo một xã hội bền vững.
Lm Antôn Hà Văn Minh

[1] Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, số 7
[2] Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 11
[3]Augustinô, De Trinitate, VIII. 8
[4]Nt, VI. 5
[5] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate, số 2.
[6] X. Krol Wojtyla (Đức Gioan- Phaolô II), Mitosc Odpowiedzialnosc, được  Bùi văn Long chuyển ngữ qua tác phẩm “Tình yêu và Trách nhiệm”, do nhà sách Kinh Đô Ấn Quán xuất bản tại Houston 1999, tr.262.
[7] X. nt, tr. 140.
[8] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate, số 3.
[9] X. Richard St Victor, De Trin. III 2
[10] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 5.
[11] Nt.
[12] X. Karol Wojtyla (Đức Gioan- Phaolô II), Mitosc Odpowiedzialnosc, được  Bùi văn Long chuyển ngữ qua tác phẩm “Tình yêu và Trách nhiệm”, do nhà sách Kinh Đô Ấn Quán xuất bản tại Houston 1999, tr.53.
[13]X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 6.
[14] K. Rahner, Der dreifaltige Gott als transzendenter Urgrund der Heilgeschichte, trong: MySal 2 (1967), tr. 337.
[15] Đức Gioan – Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, số 20.
[16] X. Đức Bênêđcitô XVI, Thông điệp Caritas in veritate, số 6.
[17] Đức Gioan – Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, số 17.
[18] X. nt.
[19] J. Ratzinger (Đức Bênêđcitô XVI), Gott und die Welt, bản dịch việt ngữ do Phạm Hồng Lam, Thiên Chúa và Trần Thế, nhà xuất bản Tôn Giáo 2011, tr.431.

Tin Giáo Phận Vinh

TIN GIÁO HỘI

Hôn Nhân & Gia Đình

Hoạt Động Hội Đoàn

Tin Hạt Cửa Lò

 
HERDIANSYAH.NET
© Copyright Giáo Xứ Tân Lộc - Giáo Hạt Cửa Lò 2010 -2011 | Design by Herdiansyah Hamzah | Published by Borneo Templates | Powered by Blogger.com Chỉnh sử bởi Khát Vọng.